Độ rộng ký tự (Character Width)

Kích thước chiếm dụng theo chiều ngang của mỗi ký tự khi hiển thị văn bản. Bao gồm sự phân biệt giữa toàn chiều rộng (2 cột) và nửa chiều rộng (1 cột), cũng như chiều rộng biến đổi trong phông chữ tỷ lệ.

Độ rộng ký tự (character width) là kích thước không gian mà mỗi ký tự chiếm theo chiều ngang khi hiển thị trên màn hình hoặc giấy. Trong xử lý văn bản tiếng Nhật, khái niệm "toàn chiều rộng" (full-width) và "nửa chiều rộng" (half-width) vẫn còn rất phổ biến, trong đó ký tự toàn chiều rộng chiếm gấp đôi chiều rộng của ký tự nửa chiều rộng. Sự phân biệt này được thiết lập từ thập niên 1980 khi phông chữ cố định là tiêu chuẩn trên các terminal máy tính.

Trong Unicode, độ rộng ký tự được phân loại bằng thuộc tính East Asian Width. F (Fullwidth) là toàn chiều rộng, H (Halfwidth) là nửa chiều rộng, W (Wide) là ký tự rộng Đông Á (kanji, hiragana, katakana...), Na (Narrow) là ký tự hẹp (chữ-số ASCII...), A (Ambiguous) là ký tự có chiều rộng thay đổi tùy ngữ cảnh. Danh mục Ambiguous này gây phiền phức nhất, bao gồm một số ký tự Hy Lạp và Cyrillic, được xử lý là toàn chiều rộng trên hệ thống Đông Á nhưng nửa chiều rộng trên hệ thống phương Tây.

Trong phông chữ tỷ lệ (proportional font), mỗi ký tự có chiều rộng khác nhau. "W" rộng gấp khoảng 3 lần "i", "m" rộng gấp khoảng 2 lần "l". Do đó, chiều rộng hiển thị của văn bản dùng phông chữ tỷ lệ không thể dự đoán chỉ bằng số ký tự. Cùng 10 ký tự nhưng "WWWWWWWWWW" và "iiiiiiiiii" có chiều rộng hiển thị rất khác nhau.

Phông chữ cố định (monospace font) thì mọi ký tự có cùng chiều rộng. Lý do trình soạn mã và terminal dùng phông chữ cố định là vì dễ căn chỉnh vị trí ký tự, thụt lề và căn cột không bị lệch. Trong phông chữ cố định tiếng Nhật, ký tự toàn chiều rộng được thiết kế rộng đúng gấp đôi ký tự nửa chiều rộng.

Mối quan hệ giữa đếm ký tự và độ rộng ký tự trở nên quan trọng trong thiết kế bố cục hiển thị. Ví dụ, khi dành 20 ký tự chiều rộng cho cột "Tên" trong màn hình danh sách cơ sở dữ liệu, nếu toàn bộ là ký tự toàn chiều rộng thì chứa được 10 ký tự, nếu toàn bộ nửa chiều rộng thì 20 ký tự. Dữ liệu thực tế thường pha trộn cả hai, nên cần thiết kế chiều rộng dựa trên trường hợp xấu nhất (toàn bộ toàn chiều rộng).

Trong thiết kế web, đơn vị CSS ch là đơn vị tương đối dựa trên chiều rộng của "0" (số không). Chỉ định width: 40ch sẽ cho chiều rộng khoảng 40 ký tự. Tuy nhiên, với phông chữ tỷ lệ, chiều rộng khác nhau tùy ký tự nên ch chỉ là ước lượng. Với văn bản tiếng Nhật, đơn vị em (1em = chiều rộng 1 ký tự toàn chiều rộng) cho phép kiểm soát chiều rộng trực quan hơn.

Chia sẻ bài viết này